Trước khi thành khu phố đông đúc như ngày nay, vùng đất của phường Tân Sơn Hòa là một phần của làng Tân Sơn Nhứt và các làng lân cận thuộc phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định: đất gò cao hơn vùng trũng ven sông, có ruộng, vườn, đường đất đỏ và xóm nhà rải rác, cách khu chợ búa Sài Gòn một quãng xa. Bước ngoặt là khi người Pháp mở sân bay trên đất làng vào khoảng đầu thập niên 1930; từ đó vùng đất đi theo nhịp phát triển của sân bay.
Các ghi chép phổ biến về làng chủ yếu là tên đơn vị hành chính, ít khi tả đời sống chi tiết. Vì vậy bài này phân rõ phần có căn cứ (tên làng, thuộc tổng huyện nào, sân bay mở trên đất làng) với phần suy ra từ địa hình và từ lịch sử chung của vùng ven Sài Gòn. Những gì chưa chắc sẽ được ghi rõ.
Đất gò giữa hai vùng trũng
Nhìn trên bản đồ địa hình, khu sân bay và các phường quanh đó nằm trên một vùng đất cao, khô ráo hơn các vùng thấp ven sông Sài Gòn và các kênh rạch phía nam, phía tây thành phố. Người khai hoang thời trước rất chuộng loại đất này để dựng nhà và làm vườn, vì ít ngập, đi lại dễ hơn vào mùa mưa. Có lẽ cũng vì vậy mà chữ "Sơn" (gò, núi) xuất hiện trong tên làng, dù không có văn bản nào ghi lý do.
Đất cao, rộng và tương đối phẳng còn là điều kiện lý tưởng để làm đường băng. Khi người Pháp tìm chỗ đặt sân bay cho Sài Gòn, họ cần một khoảng đất đủ dài, ít ngập, gần thành phố nhưng không nằm giữa khu dân cư chật. Vùng đất làng Tân Sơn Nhứt đáp ứng các điều kiện đó. Đây là một suy luận hợp lý từ địa hình chứ không phải lý do được ghi trong văn bản lập sân bay.
Hôm nay, đi trong các hẻm của Tân Sơn Hòa, bạn vẫn có thể cảm nhận nền đất cao ấy theo cách gián tiếp: nhiều con hẻm thoát nước nhanh hơn những vùng trũng của thành phố sau cơn mưa. Dĩ nhiên mặt bằng đã bị san, đắp, bê tông hoá nhiều lần, và ngập cục bộ vẫn xảy ra ở chỗ cống nhỏ hoặc đường thấp.
Làng xưa trong sổ sách hành chính
Các tài liệu địa chí thường được dẫn lại cho biết thời nhà Nguyễn, làng Tân Sơn Nhứt thuộc tổng Dương Hòa Thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Tên "huyện Bình Dương" ở đây là đơn vị thời Nguyễn quanh Sài Gòn, không phải tỉnh Bình Dương sau này; đây là chỗ người đọc hiện đại rất dễ nhầm.
Sang thời Pháp, cách tổ chức hành chính thay đổi nhiều lần, nhưng làng vẫn giữ tên và được xếp vào địa hạt Gò Vấp của tỉnh Gia Định. Điều này giải thích vì sao trong nhiều tài liệu cũ, sân bay được nhắc như ở "phía Gò Vấp". Ranh giới các tổng, làng thời đó khác xa ranh phường ngày nay, nên không thể chồng khít làng cũ lên phường mới.
Những thông tin như làng có bao nhiêu hộ, đình làng ở đâu, ai lập làng, ngày lễ của làng là ngày nào… không có trong các nguồn phổ biến. Phần lớn đất làng cũ đã nằm trong khu bay, nên dấu vết vật chất của làng còn lại rất ít. Nếu có tài liệu gốc, nó nằm trong kho lưu trữ chứ không nằm trên mạng.
Sân bay làm đổi vùng đất ra sao
Đất làng thành khu bay. Phần lớn diện tích làng được dùng cho đường băng, sân đỗ và các công trình phục vụ bay. Cư dân trong khu đất bị lấy phải dời đi chỗ khác. Ở các thập kỷ sau, mỗi lần sân bay mở rộng lại có thêm đất quanh đó chuyển mục đích sử dụng.
Đường sá mở theo sân bay. Để đi từ trung tâm Sài Gòn ra sân bay, các tuyến đường được mở và nâng cấp dần. Những trục như Trường Sơn, Hoàng Văn Thụ, Cách Mạng Tháng Tám (tên gọi ngày nay) gắn với chức năng đưa người ra vào khu bay.
Người đến làm việc rồi ở lại. Sân bay cần thợ, lính, nhân viên kỹ thuật, người phục vụ. Nhiều người đến làm việc rồi dựng nhà gần đó, kéo theo hàng quán, chợ nhỏ. Đây là cách các khu dân cư quanh sân bay lớn lên ở rất nhiều thành phố trên thế giới, không riêng Sài Gòn.
Đô thị hoá nhanh và dày. Khi thành phố lan rộng, vùng đất cao, gần trung tâm, có sẵn đường lớn như quanh sân bay nhanh chóng kín nhà. Ruộng vườn biến mất dần, thay bằng nhà ống, hẻm nhỏ. Phần này diễn ra mạnh nhất ở nửa sau thế kỷ 20.
Những lớp dân cư đến sau
Vùng quanh sân bay là nơi nhiều làn sóng di dân đi qua. Giữa thế kỷ 20, Sài Gòn đón nhiều người từ miền Bắc và miền Trung vào; các vùng ven như Tân Bình, Gò Vấp là nơi nhiều người dựng nhà vì đất còn rộng. Sau năm 1975 và nhất là từ những năm đổi mới, người từ khắp các tỉnh lại đổ về thành phố làm ăn, và Tân Bình tiếp tục là nơi đông người nhập cư.
Kết quả là trong một con hẻm ở Tân Sơn Hòa hôm nay có thể có gia đình ở đây ba, bốn đời, gia đình từ miền Trung vào lập nghiệp vài chục năm, và những người trẻ mới thuê phòng để làm việc ở sân bay. Giọng nói, món ăn, thói quen trong hẻm vì thế rất pha trộn. Đây không phải là điều riêng của Tân Sơn Hòa nhưng ở đây thấy rất rõ, vì sân bay là nơi người từ mọi miền tìm việc.
Không có số liệu công khai chi tiết về nguồn gốc dân cư của từng phường cũ, nên bài không nêu tỷ lệ. Nếu bạn muốn hiểu khu phố mình, cách tốt nhất là hỏi những người lớn tuổi trong hẻm: gia đình họ đến từ đâu, năm nào, vì sao chọn chỗ này.
Biết chắc và chưa chắc về vùng đất xưa
Để bạn đọc tự đánh giá, bảng dưới tách các ý trong bài theo mức độ chắc chắn:
| Ý | Mức độ | Ghi chú |
|---|---|---|
| Làng Tân Sơn Nhứt là gốc tên sân bay | Chắc | Được nhiều nguồn ghi nhận |
| Làng thuộc tổng Dương Hòa Thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình (thời Nguyễn) | Khá chắc | Theo tài liệu địa chí thường dẫn lại |
| Sân bay mở khoảng đầu thập niên 1930, ban đầu đường băng đất | Khá chắc | Năm cụ thể khác nhau giữa các nguồn |
| Chữ "Sơn" chỉ đất gò cao | Suy luận | Hợp địa hình, không có văn bản ghi lý do |
| Ranh làng cũ trùng ranh phường mới | Không đúng | Làng cũ rộng hơn, phần lớn nằm trong khu bay |
| Ngày lập làng, người lập làng | Chưa rõ | Không có trong nguồn phổ biến |
Cách tách này có thể dùng khi bạn đọc bất kỳ bài viết nào về lịch sử địa phương: xem câu nào có nguồn, câu nào là suy luận, câu nào chỉ là lời đồn. Bài nào không tách mà kể mọi thứ chắc nịch thì nên đọc với thái độ dè dặt.
Đi tìm dấu vết vùng đất xưa hôm nay
Dấu vết rõ nhất là chính cái tên: "Tân Sơn" trong tên sân bay và tên bốn phường quanh đó. Dấu vết thứ hai là địa hình cao ráo và cấu trúc đường sá xoay quanh khu bay. Dấu vết thứ ba nằm trong các cơ sở cũ trong khu dân cư — những ngôi nhà, cơ sở thờ cúng, miếu nhỏ có tuổi đời lâu. Tuy vậy, bài không nêu tên hay năm xây dựng cụ thể của công trình nào vì chưa kiểm được.
Một cách đi tìm dấu vết thú vị là so sánh ảnh chụp từ trên cao qua các thời kỳ. Các thư viện, trung tâm lưu trữ và một số dự án lưu giữ ảnh tư liệu Sài Gòn có lưu ảnh không ảnh cũ của khu sân bay. Nhìn những tấm ảnh đó, bạn sẽ thấy khoảng trống ruộng vườn quanh sân bay thu hẹp dần qua từng thập kỷ, cho đến khi nhà cửa phủ kín sát hàng rào.
Nếu bạn là giáo viên hay phụ huynh, đây là một đề tài hay cho trẻ tìm hiểu về nơi mình sống: từ cái tên trên bảng đường, lần ngược ra một ngôi làng. Điều quan trọng là dạy trẻ phân biệt điều đã biết với điều mình đoán, đúng như cách bảng ở trên đã làm.
Vì sao lịch sử làng cũ vẫn đáng quan tâm
Có người cho rằng một vùng đất đã thành phố kín thì chuyện làng xưa chỉ còn là chuyện kể. Nhưng lịch sử đất đai để lại dấu ấn rất thực tế: hình dạng các con hẻm cong theo bờ ruộng cũ, những thửa đất có nguồn gốc phức tạp vì từng là đất nông nghiệp, các khu nhà hình thành theo từng đợt di dân. Người mua bán nhà, người làm quy hoạch hay người tìm hiểu tranh chấp đất đai đều có lúc phải lần về những lớp lịch sử này.
Ở một mức gần gũi hơn, hiểu nơi mình ở có lịch sử giúp người ta gắn bó hơn. Tân Sơn Hòa thường được nhắc đến như "khu sân bay", một nơi người ta đi qua. Nhưng với hàng chục nghìn người đang sống ở đây, đó là quê, là xóm. Một chút hiểu biết về ngôi làng cũ giúp cái tên mới có thêm chiều sâu.
Đời sống vùng ven Gia Định thời trước, hình dung theo những gì đã biết
Không có ghi chép chi tiết về đời sống riêng của làng Tân Sơn Nhứt, nhưng có thể hình dung qua những gì đã biết về các làng vùng ven Sài Gòn xưa nói chung. Phần lớn người dân làm ruộng, trồng rau màu, cây trái trên đất gò, nuôi gia súc nhỏ. Sản vật được gánh, chở bằng xe bò hoặc xe thổ mộ vào các chợ trong thành phố. Đường làng là đường đất, mùa mưa lầy, mùa khô bụi đỏ.
Làng có tổ chức theo lối làng Nam Bộ: có hội đồng hương chức lo việc chung, có đình để họp và cúng tế theo lệ, có những ngày hội gắn với mùa vụ. Đó là bức tranh chung của các làng quanh Gia Định thời Nguyễn và đầu thời Pháp, được nhiều công trình nghiên cứu mô tả. Áp nguyên bức tranh ấy vào riêng làng Tân Sơn Nhứt là suy luận, không phải tư liệu cụ thể của làng.
Điều chắc hơn là khoảng cách: so với hôm nay, vùng này thời trước ở khá xa trung tâm. Đi từ chợ Sài Gòn ra đây là một chuyến đi về miệt ngoài, không phải vài phút xe máy như bây giờ. Chính sự xa xôi và đất rộng ấy là lý do một sân bay có thể được đặt ở đây mà không phải giải toả cả một khu phố.
Câu hỏi thường gặp
Huyện Bình Dương thời Nguyễn có phải tỉnh Bình Dương ngày nay không?
Không. Huyện Bình Dương thời Nguyễn là một đơn vị thuộc phủ Tân Bình, bao quanh Sài Gòn xưa. Tỉnh Bình Dương được lập ở thế kỷ 20 ở phía bắc, là vùng đất khác. Hai tên trùng chữ nhưng không cùng địa bàn.
Còn đình làng Tân Sơn Nhứt không?
Các nguồn phổ biến không ghi rõ đình làng Tân Sơn Nhứt xưa nằm ở đâu và còn hay không. Phần lớn đất làng cũ nằm trong khu bay. Nếu cần tìm hiểu, nên hỏi các nhà nghiên cứu địa phương hoặc ban quản lý các cơ sở di tích trong vùng.
Sân bay có từ năm nào?
Các nguồn phổ biến ghi sân bay được người Pháp mở khoảng đầu thập niên 1930, ban đầu đường băng làm bằng đất. Năm cụ thể và mốc chuyến bay đầu tiên có chênh lệch giữa các nguồn, nên trang ghi theo thập niên thay vì một năm duy nhất.
Người dân bị lấy đất làm sân bay đã đi đâu?
Tài liệu phổ biến không ghi chi tiết. Theo thông lệ thời đó, người dân trong khu đất bị trưng dụng phải dời đến chỗ khác, nhiều người ở lại các vùng lân cận. Muốn biết rõ cần tra hồ sơ lưu trữ thời Pháp.
Có ảnh cũ của vùng đất quanh sân bay không?
Có nhiều ảnh tư liệu Sài Gòn từ thời Pháp và giữa thế kỷ 20, trong đó có ảnh khu sân bay. Các trung tâm lưu trữ, thư viện và một số bộ sưu tập ảnh tư liệu có lưu. Khi dùng ảnh nên ghi rõ nguồn và kiểm năm chụp.